Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Ao Bà Om và những đám cưới lạ lùng ở Trà Vinh

Nằm cách trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 7 km dọc theo quốc lộ 53 về phía tây nam, từ lâu, ao Bà Om đã trở thành một địa danh nổi tiếng của tỉnh Trà Vinh nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Địa danh này làm mê đắm lòng người không chỉ bởi vẻ đẹp hoang sơ mà còn ở những giai thoại, những câu chuyện kể mang nhiều chi tiết siêu nhiên cũng rất gần gũi với người dân miền tây sông nước, đặc biệt là với người Khmer ở vùng đất này. Trong đó, có những giai thoại truyền miệng trong dân gian giải thích về tên gọi ao Bà Om và những phong tục cưới hỏi lạ lùng….

Đẹp hoang sơ mà kiều diễm

Chúng tôi đến ao Bà Om vào một ngày cuối năm. Mặt hồ tĩnh lặng trong xanh pha lẫn màu vàng nhạt của cơn nắng nhẹ cuối chiều, luồng gió trong lành đang len lỏi qua những tán cây cổ thụ rợp mát, hoa sen tỏa hương ngào ngạt… Ao Bà Om thuộc địa bàn  khóm 4, phường 8 thành phố Trà Vinh (trước đây là ấp Tà Cụ, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành). 

Khuôn viên ao rộng khoảng 12km2, còn có một tên gọi khác là ao Vuông vì cả bốn bờ đều có kích thước bằng nhau tạo thành một hình vuông thẳng góc. Bao bọc xung quanh ao là những con đường cát thoai thoải như những đồi núi. Hai bên đường là hằng trăm cây sao, cây dầu cổ thụ rất to, có bộ rễ nổi trên mặt đất với những hình thù đặc sắc và kỳ vỹ khiến du khách ngỡ ngàng. Một phong cảnh hữu tình càng trở nên thơ mộng hơn với những hình ảnh những đôi tình nhân chở nhau trên xe đạp, xe gắn máy, những nhóm bạn trẻ cùng ngồi trên bộ rễ cây rợp bóng mát trò chuyện…

Nằm cạnh ao bà Om là ngôi chùa Âng (còn có tên gọi khác là chùa Angkorajaborey), ngôi chùa Khmer cổ kính vào loại bậc nhất ở Việt Nam. Chùa Âng được xây dựng vào năm 990 cuối thế kỷ X, với hình dạng độc đáo và hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên, mang đậm bản sắc văn hóa Khmer Nam Bộ. Một người dân địa phương tự hào: “Ai đến Trà Vinh một lần mà chưa ghé qua ao Bà Om thì coi như chưa biết vùng này”.


Ao Bà Om mang nhiều chi tiết siêu nhiên, nhưng cũng rất gần gũi với người dân miền tây sông nước.

Khoác lên mình một vẻ đẹp hoang sơ và kiều diễm, những năm qua, ao Bà Om luôn là một điểm đến làm say lòng biết bao du khách. Thế nhưng, sức hút của địa danh này còn nằm ở những giai thoại, những câu chuyện kể với nhiều chi tiết siêu nhiên giải thích về tên gọi của ao và lồng ghép trong đó là những câu chuyện về phong tục cưới hỏi rất kì lạ. Theo những tài liệu còn lưu lại, thì không ai biết rõ, ao Bà Om được đào vào năm nào của thế kỷ nào, hiện nay, gốc tích về ao Bà Om chỉ được mọi người biết đến qua những câu chuyện kể dân gian mang đầy màu sắc huyền thoại.

Cái ao mang tên người phụ nữ mưu trí

Câu chuyện đầu tiên được người ta biết đến nhiều nhất kể rằng, ngày xưa ở vung đất Thủy Chân Lạp, tổ chức xã hội chưa hoàn chỉnh, những mối quan hệ trong đời sống chưa có sự thống nhất bằng những quy chuẩn rõ ràng. Đặc biệt đối với chuyện hôn nhân, điều kiện và những luật lệ đặt ra mỗi nơi mỗi khác. Có nơi, bên nam phải mang sính lễ đi hỏi cưới bên nữ, có nơi bên nữ phải mang sính lễ đi hỏi cưới bên nam. 

Lây ngày đã dẫn đến sự so đo về phong tục hôn nhân, nơi nào cũng cho rằng luật lệ cưới hỏi bên mình là đúng và không bên nào chịu nhường bên nào. Cũng vào thời gian này, vùng đất Thủy Chân Lạp đang vào mùa hạn, nước ngọt rất khan hiếm và quý như vàng. Cuộc sống của người dân lâm vào cảnh đói nghèo vì ruộng rẫy khô cằn, cây cỏ vàng úa. Trước tình cảnh ấy, vị lãnh chúa vùng Thủy Chân Lạp đã nghĩ ra một kế sách có thể nói là “một công đôi việc”. Ông bày ra một cuộc thi cho bên nam và nữ. Cụ thể, các bên lập ra hai đội có số người bằng nhau để tranh tài.

Bắt đầu cuộc thi, người trọng tài chọn ra 2 mảnh đất có diện tích vuông vức bằng nhau, mỗi bên phải đào một cái ao có kích thước và chiều sâu như nhau, bên nào đào xong trước thì bên đó sẽ thắng cuộc. Sau khi lựa chọn, bên nam đào ao ở phía Tây, còn bên nữ đào ao ở phía Đông. Theo giao hẹn, tất cả đều khởi công khi sao Hôm vừa chớm mọc và ngừng việc khi sao Mai vừa ló dạng ở chân trời. 

Điều kiện của cuộc thi là bên nào thua cuộc sẽ phải mang sính lễ đi cưới hỏi bên thắng cuộc và đó là luật lệ chung được áp dụng trong dân chúng về sau. Do tính chất quan trọng của cuộc thi, nên đôi bên đều chọn ra những người có sức khỏe, và lực lượng để tranh tài. Tuy nhiên, bên nam giới vốn có lợi thế về sức mạnh nên việc bên nữ giành được phần thắng là rất khó khăn. Lúc này, Bà Om là người chỉ huy bên đội nữ đã nghĩ ra một kế sách, họ vừa đào vừa ca múa để các chàng trai bỏ việc mà chạy sang rình xem. 

Nửa đêm, Bà Om cho chặt một cây tre thật dài, trao ngọn đèn lồng rồi đem cắm ở hướng Đông. Khi bên nam thấy ngọn đèn, tưởng là sao Mai nên họ khéo nhau về nghỉ, còn bên nữ tiếp tục đào đến sáng và xong việc trước. Bên nam thua cuộc và phải chấp nhận những điều kiện của cuộc thi. Còn cái ao đã trở thành nơi giữ nước ngọt, giúp người dân vượt qua khó khăn trong mùa hạn hán. Để nhớ ơn người phụ nữ này, người ta lấy tên bà đặt tên ao, từ đó ao do những người phụ nữ này đào được gọi là ao Bà Om.

Những giai thoại xung quanh ao Bà Om

Huyền thoại thứ hai kể rằng, ngày xưa, có một hoàng tử Po Tum Ma Vong cùng em gái trấn nhậm vùng đất Trà Vinh xưa. Hoàng tử đóng dinh ở một nơi khá xa, còn công chúa thì chọn khoảng đất gần chùa Âng để cất dinh thự. Ngày đó, vùng đất này rất ít cư dân, hoàng tử Po Tum Ma Vong vốn thuộc dòng dõi quý tộc nên việc lựa chọn người để cưới hỏi phải theo những quy chuẩn nhất định. Chính vì thế, sau nhiều năm, hoàng tử Po Tum Ma Vong vẫn không tìm được người ưng ý để cưới.   

“Bí” đường, hoàng tử đã sang hỏi cưới em gái nhưng bị công chúa cự tuyệt vì trái luân thường. Thấy ý định của hoàng tử Po Tum Ma Vong vẫn không thay đổi, nên nàng cho binh lính đắp lũy hào quanh dinh thự để ngăn bước anh trai qua quấy rối. Nàng cũng cho đào  một cái ao để tắm và lấy nước ngọt dùng trong dinh. Sau đó  giao cho “tứ nữ cận thần” gồm: Bà Om, Bà Sun, Bà Son, Bà Inh  (do bà Om chỉ huy) canh gác bốn phía, nên dân trong gọi là ao Bà Om…

Cũng liên quan đến hoàng tử tên là Po Tum Ma Vong, còn có một giai thoại khác kể rằng, khi xưa, vị hoàng tử này về trấn nhậm vùng đất Trà Vinh tỏ ra là một người rất độc đoán. Ông bắt dân chúng phải dâng gái đẹp cho ông ta, còn đặt ra luật lệ bắt đàn bà phải mang sính lễ đi cưới hỏi đàn ông. Lúc này trong vùng có một cô gái xinh đẹp bất bình với việc làm của hoàng tử, nàng đến thuyết phục hoàng tử cho mở một cuộc thi đào ao giữa bên nam và bên nữ, bên đào xong trước sẽ thắng cuộc, được bên thua mang sinh lễ đi hỏi cưới. Vì bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp của cô gái nên hoàng tử đã đồng ý, sau đó cuộc thi diễn ra. Bằng sự mưu trí, bên nữ đã thắng cuộc trước sự “tâm phục khẩu phục” của đấng mày râu như đã kể trên.

Lại thêm một giai thoại khác nữa rất kỳ lạ kể rằng, xưa kia có hai vợ chồng là ông Lũy và bà Om sống với nhau rất hạnh phúc và có được một đứa con. Do chưa có sự thống nhất trong các mối quan hệ gia đình, nên hai vợ chồng đắn đo, suy nghĩ mãi mà không biết đặt tên con cho theo họ cha hay họ mẹ. Cuối cùng, họ nghĩ ra được một cách, ông Lũy và bà Om thi nhau làm công việc: Ông Lũy đắp lũy còn bà Om đào ao. Vốn không bì được sức khỏe với người chồng, nhưng nhờ cần cù, làm việc không ngơi nghỉ nên bà Om thắng, đứa con được theo họ mẹ. Từ đó, người dân tộc Khmer đều cho con cái theo họ mẹ. Đó là tục lệ lâu đời của người Khmer, có người gọi đó là tập tục sống theo “mẫu hệ”, tức con cái theo họ mẹ và mẹ là người trụ cột trong gia đình. Mãi đến thời Pháp cai trị, người Khmer mới lấy họ cha.

Về phương diện âm ngữ, một giai thoại cho rằng, trước đây, Trài Vinh là vùng đất có nhiều loại rau mọc hoang dã, trong đó có rau Ngò Om (một thứ gia vị, có mùi thơm đặc biệt, thường dùng để bỏ vào canh chua). Rau Ngò Om mọc rất nhiều xung quanh bờ ao, nên người dân địa phương đã dùng tên loại rau này để đặt tên cho ao. Lâu ngày, chữ Ngò Om được người dân địa phương đọc chệch thành Mò Om rồi Bà Om là do từ “Prah Âng” (pơ-ra Âng) tức là chùa Pra Âng (nằm cạnh ao) đọc chệch thành Bà Om do ao Bà Om nằm rất gần với chùa Âng. Cách giải thích này có vẻ khó thuyết phục nhưng được nhiều người dân đồng tình hơn cả.

Đến nay, chưa ai biết thực hư về những câu chuyện kể trên, tất cả đều là những giai thoại truyền miệng trong dân gian mang đầy màu sắc huyền bí. Song những giai thoại ấy đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Trà Vinh nói riêng, cư dân Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, nhất là đồng bào dân tộc Khmer trên mảnh đất này. Điều quan trọng nhất là ao Bà Om luôn là niềm tự hào của người dân Trà Vinh và là điểm tham quan du lịch, dã ngoại được nhiều du khách lựa chọn. Năm 1996, quần thể chùa Âng và ao Bà Om đã được bộ Văn hóa – thông tin (nay là bộ văn hóa – thể thao và du lịch) công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia.

Đang yêu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét