Hiển thị các bài đăng có nhãn những. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn những. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Những thanh niên gốc Việt được thế giới vinh danh

Nam Nguyên, Hoàng Đông Bách, Nguyễn Ngọc Trâm... những cái tên của các bạn trẻ gốc Việt đã mang lại niềm tự hào cho đất nước trong năm vừa qua.

>> Chàng trai gốc Việt vượt qua 2.000 người...
>> Chàng trai gốc Việt vào top tài năng Forbes
>> Học bổng Úc mang tên cô gái gốc Việt
>> Cô gái mù gốc Việt thành Vua đầu bếp Mỹ
>> Thanh niên gốc Việt được Nữ hoàng Anh vinh danh

Xếp hạng 19/30 của Forbes

Nam Nguyen vừa nâng vị trí tri thức của Việt Nam trên trường quốc tế khi vinh dự được Forbes bình chọn đứng thứ 19 trên tổng số 30 người xuất sắc trong ngành marketing và quảng cáo. Hiện anh là Giám đốc Nội dung tại 360i.


Chàng trai gốc Việt này sinh ra và lớn lên tại Thung lũng Silicon (bang California). Anh tốt nghiệp đại học San Jose và từng làm việc tại Goodby, Silverstein & Partners, NBCUniversal trước khi chuyển đến 360i năm 2011.

Công việc của Nam Nguyên là quản lý nội dung theo thời gian thực, sử dụng dữ liệu về xu hướng của khách hàng. Từ đó, anh giúp các hãng tên tuổi như Cocacola, Kraft Foods và UGG kết nối nhiều hơn với người tiêu dùng thông qua nội dung chia sẻ.

Kể từ năm 2011, Forbes công bố danh sách thường niên "30 under 30", gồm 30 cá nhân xuất sắc dưới 30 tuổi tại 15 lĩnh vực như Tài chính, Marketing, Thời trang, Công nghệ, Điện ảnh hay Giáo dục. Để tạo ra danh sách này, Forbes đã phải hợp tác với rất nhiều chuyên gia để chọn được những ngôi sao sáng giá nhất trong từng lĩnh vực.

Nam Nguyễn nằm trong số những người được đánh giá là rất thông minh, sáng tạo, nhiệt tình, chăm chỉ và có khả năng thay đổi thế giới.

Nữ hoàng Anh vinh danh

Lớn lên ở vùng Jane-Finch thuộc Toronto (Canada) - địa bàn khét tiếng có nhiều tội phạm với đa số cư dân nghèo khó, năm 2004 Paul đã quyết định mở trang web Jane-Finch.com để xóa tan các định kiến không hay về khu vực anh cư trú.

Paul biên tập nội dung trang web, làm ra các bản tin và phóng sự radio, video phản ánh những nét đẹp trong cộng đồng, đăng lên trang và hướng dẫn cho các cộng tác viên trẻ khác trong nhóm cùng làm.

Chỉ một thời gian ngắn, kênh thông tin Jane-Finch.com cùng chủ nhân trở thành câu chuyện thành công nổi tiếng khắp Canada.


Giải thưởng lĩnh vực hàng hải

Hoàng Đông Bách, một sinh viên mới tốt nghiệp Trường ĐH Quản lý Singapore, vừa được nhận vào làm việc tại một công ty về ngành tàu biển chưa lâu nhưng đã xuất sắc vượt qua 2.000 người để nhận giải thưởng Lloyd’s List Award - giải thưởng danh giá trong lĩnh vực hàng hải.

Ông Voytek Chelkowski, Chủ tịch Công ty Seamind có trụ sở tại Singapore - nơi Bách đang làm việc, cho biết đây là giải thưởng quan trọng cho những người làm trong lĩnh vực này, do Institute of Chartered Shipbrokers (ICS) tổ chức.


Đông Bách nhận giải thưởng danh giá trong lĩnh vực hàng hải ở Singapore.


Bách sinh ra ở Nga, lên 4 tuổi cùng bố mẹ và gia đình sang Ba Lan định cư. Quyết định du học ở Singapore vì lý do được gần Việt Nam, Bách chọn ngành xã hội học và marketing. Sau khi tốt nghiệp, tình cờ Bách gặp lại ông Voytek Chelkowski - người từng tổ chức và tài trợ cho một cuộc thi piano quốc tế - nơi mà em trai Bách đã thi và đoạt giải nhất năm 2010.

Sau cuộc trò chuyện, Bách nhận thấy ngành hàng hải rất thú vị và có triển vọng lớn nên quyết định nộp đơn vào công ty. Bằng nỗ lực vượt bậc và được sự giúp đỡ, động viên của ông Chelkowski, Bách đã đăng ký thi cùng lúc cả 6 môn và làm nên điều ngạc nhiên lớn cho những người trong lĩnh vực hàng hải.

Hằng năm, ba mẹ và Bách đều bay về Việt Nam thăm ông bà và họ hàng. Chàng trai sinh năm 1988 xúc động khi nói về cha mẹ: “Bố mẹ mình đã phải trải qua rất nhiều khó khăn để nuôi lớn và lo việc học hành của 3 anh em. Nhờ những hy sinh lớn lao đó mà tụi mình mới biết được việc học quan trọng như thế nào và luôn cố gắng để có được như ngày hôm nay”. 

Học bổng Nguyễn Ngọc Trâm tại Australia

Học bổng Nguyễn Ngọc Trâm vinh dự do trường Luật của Đại học New South Wales thành lập, trao cho những sinh viên trẻ tuổi gặp hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống tại khu vực Tây Nam Sydney.


Nguyễn Ngọc Trâm


Ngọc Trâm là một người Việt đến Sydney khi còn là một đứa trẻ. Trâm lớn lên tại Cabramatta với ma túy và tội phạm. Cơ duyên đã đến với cô khi cô gặp giáo sư David Dixon, trưởng khoa Luật khi ông tiến hành một nghiên cứu về cảnh sát ở Cabramatta. Ông nhận ra rằng Trâm là một cô gái đặc biệt. Mặc dù cô không được học hành tử tế nhưng năng lực và trí tuệ của cô ngang bằng với những học sinh ưu tú, tài năng tại trường Luật.

Trâm trở thành trợ lý nghiên cứu của dự án và là đồng tác giả trong đề tài: “Nhận thức và trải nghiệm của cộng đồng người gốc Á về cảnh sát.” Với sự động viên, khuyến khích của giáo sư David Dixon, Trâm đăng ký vào học tại trường Luật, Đại học New South Wales (UNSW).

Mơ ước của Trâm là trở thành luật sư và người lãnh đạo cộng đồng để giúp đỡ cho bạn bè và cộng đồng của mình. Tuy nhiên, cô chưa thể hoàn thành tâm nguyện của mình. Trâm mất trong một tai nạn ô tô.

Năm 2011, Giáo sư Dixon thành lập một quỹ học bổng mang tên Nguyễn Ngọc Trâm dành cho những người gặp khó khăn như Trâm để họ đạt được những gì họ mong muốn tại trường Luật, UNSW.

Trong hơn một năm qua, học bổng đã quyên góp được 125.000 đô-la Úc từ hơn 100 cựu sinh viên, các hãng luật và giảng viên tại trường Luật dành cho một sinh viên trong suốt 5 năm học.

Người may mắn được học bổng Nguyễn Ngọc Trâm đầu tiên là Victor Lâm. Victor đã hoàn thành chương trình trung học tại trường Busby High, một trường nằm trong chương trình Hỗ trợ các trường gặp nhiều khó khăn (PSFP). Cha mẹ Victor cũng là những người tị nạn đến Úc sau chiến tranh.

C ô g ái m ù th ành vua đ ầu b ếp M
 


Vua đầu bếp Mỹ - Christine Hà


Christine Hà (33 tuổi) là một công dân thành phố Houston, Mỹ bị mắc chứng rối loạn hệ thống tự miễn dịch nueromyelitis optica (một chứng bệnh tấn công vào hệ quang thần kinh gây mù) đã khiến cô mất dần thị giác từ năm 19 tuổi. Tuy nhiên, bằng sự nỗ lực của mình cô đã trở thành Vua đầu bếp tại Mỹ với giải thưởng trị giá 250.000 USD (tương đương 5,2 tỷ đồng) và hợp đồng xuất bản sách dạy nấu ăn.

Trong một lần trả lời phỏng vấn cho People Magazine, Christine cho biết: “Tôi bắt đầu mắc bệnh từ năm 1999. Ban đầu tôi chỉ bị một mắt, nhưng nó không thể hồi phục nên tôi đã học cách nhìn chỉ với một mắt. Đến năm 2004, thị lực đã suy giảm đến mức tôi không còn lái xe được nữa. Đến năm 2007 thì tình trạng của tôi giống hệt như bây giờ. Tôi phải dùng một chiếc gậy dò đường hoặc phải nương vào cánh tay ai đó để được chỉ dẫn đường đi”.

Sự bất hạnh vì mất đi thị giác không làm suy giảm niềm đam mê nấu ăn của Christine Hà. Cô đã tự điều chỉnh để thích nghi với nghịch cảnh. Vì không thể nhìn thấy các nguyên liệu nên tất cả cô phải dựa vào giác quan là ngửi mùi và xúc giác để xác định nguyên liệu có tươi hay không. May thay việc cắt bằng dao không quá khó với cô vì kỹ thuật dùng dao của Christine Hà khá tốt. Tuy nhiên, trong quá khứ cô từng cắt trúng tay một lần nhưng đó chỉ là vết thương nhỏ.

Christine cũng là một blogger nổi tiếng về ẩm thực lên trang theblindcook.com - đó cũng là lý do các nhà sản xuất chương trình Vua đầu bếp phát hiện và mời cô đến với cuộc thi.

Tuy khiếm thị nhưng khi nấu ăn Christine chỉ cần được cho biết trước những nguyên liệu và dụng cụ chuẩn bị sẵn, sau đó cô thực hiện món ăn hoàn toàn dựa vào các giác quan như cảm giác về nhiệt độ, khoảng cách, âm thanh của nước chảy vào chảo, mùi của tỏi … trong suốt quá trình nấu nướng.

Chiến thắng của Christine Hà là một phần thưởng xứng đáng cho cô và gia đình cũng như và những người yêu mến dõi theo cô suốt thời gian qua. Cô minh chứng hùng hồn rằng niềm đam mê và nghị lực có thể đưa con người vượt qua nghịch cảnh để đến với những ước mơ.

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Ao Bà Om và những đám cưới lạ lùng ở Trà Vinh

Nằm cách trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 7 km dọc theo quốc lộ 53 về phía tây nam, từ lâu, ao Bà Om đã trở thành một địa danh nổi tiếng của tỉnh Trà Vinh nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Địa danh này làm mê đắm lòng người không chỉ bởi vẻ đẹp hoang sơ mà còn ở những giai thoại, những câu chuyện kể mang nhiều chi tiết siêu nhiên cũng rất gần gũi với người dân miền tây sông nước, đặc biệt là với người Khmer ở vùng đất này. Trong đó, có những giai thoại truyền miệng trong dân gian giải thích về tên gọi ao Bà Om và những phong tục cưới hỏi lạ lùng….

Đẹp hoang sơ mà kiều diễm

Chúng tôi đến ao Bà Om vào một ngày cuối năm. Mặt hồ tĩnh lặng trong xanh pha lẫn màu vàng nhạt của cơn nắng nhẹ cuối chiều, luồng gió trong lành đang len lỏi qua những tán cây cổ thụ rợp mát, hoa sen tỏa hương ngào ngạt… Ao Bà Om thuộc địa bàn  khóm 4, phường 8 thành phố Trà Vinh (trước đây là ấp Tà Cụ, xã Nguyệt Hóa, huyện Châu Thành). 

Khuôn viên ao rộng khoảng 12km2, còn có một tên gọi khác là ao Vuông vì cả bốn bờ đều có kích thước bằng nhau tạo thành một hình vuông thẳng góc. Bao bọc xung quanh ao là những con đường cát thoai thoải như những đồi núi. Hai bên đường là hằng trăm cây sao, cây dầu cổ thụ rất to, có bộ rễ nổi trên mặt đất với những hình thù đặc sắc và kỳ vỹ khiến du khách ngỡ ngàng. Một phong cảnh hữu tình càng trở nên thơ mộng hơn với những hình ảnh những đôi tình nhân chở nhau trên xe đạp, xe gắn máy, những nhóm bạn trẻ cùng ngồi trên bộ rễ cây rợp bóng mát trò chuyện…

Nằm cạnh ao bà Om là ngôi chùa Âng (còn có tên gọi khác là chùa Angkorajaborey), ngôi chùa Khmer cổ kính vào loại bậc nhất ở Việt Nam. Chùa Âng được xây dựng vào năm 990 cuối thế kỷ X, với hình dạng độc đáo và hài hòa với cảnh sắc thiên nhiên, mang đậm bản sắc văn hóa Khmer Nam Bộ. Một người dân địa phương tự hào: “Ai đến Trà Vinh một lần mà chưa ghé qua ao Bà Om thì coi như chưa biết vùng này”.


Ao Bà Om mang nhiều chi tiết siêu nhiên, nhưng cũng rất gần gũi với người dân miền tây sông nước.

Khoác lên mình một vẻ đẹp hoang sơ và kiều diễm, những năm qua, ao Bà Om luôn là một điểm đến làm say lòng biết bao du khách. Thế nhưng, sức hút của địa danh này còn nằm ở những giai thoại, những câu chuyện kể với nhiều chi tiết siêu nhiên giải thích về tên gọi của ao và lồng ghép trong đó là những câu chuyện về phong tục cưới hỏi rất kì lạ. Theo những tài liệu còn lưu lại, thì không ai biết rõ, ao Bà Om được đào vào năm nào của thế kỷ nào, hiện nay, gốc tích về ao Bà Om chỉ được mọi người biết đến qua những câu chuyện kể dân gian mang đầy màu sắc huyền thoại.

Cái ao mang tên người phụ nữ mưu trí

Câu chuyện đầu tiên được người ta biết đến nhiều nhất kể rằng, ngày xưa ở vung đất Thủy Chân Lạp, tổ chức xã hội chưa hoàn chỉnh, những mối quan hệ trong đời sống chưa có sự thống nhất bằng những quy chuẩn rõ ràng. Đặc biệt đối với chuyện hôn nhân, điều kiện và những luật lệ đặt ra mỗi nơi mỗi khác. Có nơi, bên nam phải mang sính lễ đi hỏi cưới bên nữ, có nơi bên nữ phải mang sính lễ đi hỏi cưới bên nam. 

Lây ngày đã dẫn đến sự so đo về phong tục hôn nhân, nơi nào cũng cho rằng luật lệ cưới hỏi bên mình là đúng và không bên nào chịu nhường bên nào. Cũng vào thời gian này, vùng đất Thủy Chân Lạp đang vào mùa hạn, nước ngọt rất khan hiếm và quý như vàng. Cuộc sống của người dân lâm vào cảnh đói nghèo vì ruộng rẫy khô cằn, cây cỏ vàng úa. Trước tình cảnh ấy, vị lãnh chúa vùng Thủy Chân Lạp đã nghĩ ra một kế sách có thể nói là “một công đôi việc”. Ông bày ra một cuộc thi cho bên nam và nữ. Cụ thể, các bên lập ra hai đội có số người bằng nhau để tranh tài.

Bắt đầu cuộc thi, người trọng tài chọn ra 2 mảnh đất có diện tích vuông vức bằng nhau, mỗi bên phải đào một cái ao có kích thước và chiều sâu như nhau, bên nào đào xong trước thì bên đó sẽ thắng cuộc. Sau khi lựa chọn, bên nam đào ao ở phía Tây, còn bên nữ đào ao ở phía Đông. Theo giao hẹn, tất cả đều khởi công khi sao Hôm vừa chớm mọc và ngừng việc khi sao Mai vừa ló dạng ở chân trời. 

Điều kiện của cuộc thi là bên nào thua cuộc sẽ phải mang sính lễ đi cưới hỏi bên thắng cuộc và đó là luật lệ chung được áp dụng trong dân chúng về sau. Do tính chất quan trọng của cuộc thi, nên đôi bên đều chọn ra những người có sức khỏe, và lực lượng để tranh tài. Tuy nhiên, bên nam giới vốn có lợi thế về sức mạnh nên việc bên nữ giành được phần thắng là rất khó khăn. Lúc này, Bà Om là người chỉ huy bên đội nữ đã nghĩ ra một kế sách, họ vừa đào vừa ca múa để các chàng trai bỏ việc mà chạy sang rình xem. 

Nửa đêm, Bà Om cho chặt một cây tre thật dài, trao ngọn đèn lồng rồi đem cắm ở hướng Đông. Khi bên nam thấy ngọn đèn, tưởng là sao Mai nên họ khéo nhau về nghỉ, còn bên nữ tiếp tục đào đến sáng và xong việc trước. Bên nam thua cuộc và phải chấp nhận những điều kiện của cuộc thi. Còn cái ao đã trở thành nơi giữ nước ngọt, giúp người dân vượt qua khó khăn trong mùa hạn hán. Để nhớ ơn người phụ nữ này, người ta lấy tên bà đặt tên ao, từ đó ao do những người phụ nữ này đào được gọi là ao Bà Om.

Những giai thoại xung quanh ao Bà Om

Huyền thoại thứ hai kể rằng, ngày xưa, có một hoàng tử Po Tum Ma Vong cùng em gái trấn nhậm vùng đất Trà Vinh xưa. Hoàng tử đóng dinh ở một nơi khá xa, còn công chúa thì chọn khoảng đất gần chùa Âng để cất dinh thự. Ngày đó, vùng đất này rất ít cư dân, hoàng tử Po Tum Ma Vong vốn thuộc dòng dõi quý tộc nên việc lựa chọn người để cưới hỏi phải theo những quy chuẩn nhất định. Chính vì thế, sau nhiều năm, hoàng tử Po Tum Ma Vong vẫn không tìm được người ưng ý để cưới.   

“Bí” đường, hoàng tử đã sang hỏi cưới em gái nhưng bị công chúa cự tuyệt vì trái luân thường. Thấy ý định của hoàng tử Po Tum Ma Vong vẫn không thay đổi, nên nàng cho binh lính đắp lũy hào quanh dinh thự để ngăn bước anh trai qua quấy rối. Nàng cũng cho đào  một cái ao để tắm và lấy nước ngọt dùng trong dinh. Sau đó  giao cho “tứ nữ cận thần” gồm: Bà Om, Bà Sun, Bà Son, Bà Inh  (do bà Om chỉ huy) canh gác bốn phía, nên dân trong gọi là ao Bà Om…

Cũng liên quan đến hoàng tử tên là Po Tum Ma Vong, còn có một giai thoại khác kể rằng, khi xưa, vị hoàng tử này về trấn nhậm vùng đất Trà Vinh tỏ ra là một người rất độc đoán. Ông bắt dân chúng phải dâng gái đẹp cho ông ta, còn đặt ra luật lệ bắt đàn bà phải mang sính lễ đi cưới hỏi đàn ông. Lúc này trong vùng có một cô gái xinh đẹp bất bình với việc làm của hoàng tử, nàng đến thuyết phục hoàng tử cho mở một cuộc thi đào ao giữa bên nam và bên nữ, bên đào xong trước sẽ thắng cuộc, được bên thua mang sinh lễ đi hỏi cưới. Vì bị lôi cuốn bởi vẻ đẹp của cô gái nên hoàng tử đã đồng ý, sau đó cuộc thi diễn ra. Bằng sự mưu trí, bên nữ đã thắng cuộc trước sự “tâm phục khẩu phục” của đấng mày râu như đã kể trên.

Lại thêm một giai thoại khác nữa rất kỳ lạ kể rằng, xưa kia có hai vợ chồng là ông Lũy và bà Om sống với nhau rất hạnh phúc và có được một đứa con. Do chưa có sự thống nhất trong các mối quan hệ gia đình, nên hai vợ chồng đắn đo, suy nghĩ mãi mà không biết đặt tên con cho theo họ cha hay họ mẹ. Cuối cùng, họ nghĩ ra được một cách, ông Lũy và bà Om thi nhau làm công việc: Ông Lũy đắp lũy còn bà Om đào ao. Vốn không bì được sức khỏe với người chồng, nhưng nhờ cần cù, làm việc không ngơi nghỉ nên bà Om thắng, đứa con được theo họ mẹ. Từ đó, người dân tộc Khmer đều cho con cái theo họ mẹ. Đó là tục lệ lâu đời của người Khmer, có người gọi đó là tập tục sống theo “mẫu hệ”, tức con cái theo họ mẹ và mẹ là người trụ cột trong gia đình. Mãi đến thời Pháp cai trị, người Khmer mới lấy họ cha.

Về phương diện âm ngữ, một giai thoại cho rằng, trước đây, Trài Vinh là vùng đất có nhiều loại rau mọc hoang dã, trong đó có rau Ngò Om (một thứ gia vị, có mùi thơm đặc biệt, thường dùng để bỏ vào canh chua). Rau Ngò Om mọc rất nhiều xung quanh bờ ao, nên người dân địa phương đã dùng tên loại rau này để đặt tên cho ao. Lâu ngày, chữ Ngò Om được người dân địa phương đọc chệch thành Mò Om rồi Bà Om là do từ “Prah Âng” (pơ-ra Âng) tức là chùa Pra Âng (nằm cạnh ao) đọc chệch thành Bà Om do ao Bà Om nằm rất gần với chùa Âng. Cách giải thích này có vẻ khó thuyết phục nhưng được nhiều người dân đồng tình hơn cả.

Đến nay, chưa ai biết thực hư về những câu chuyện kể trên, tất cả đều là những giai thoại truyền miệng trong dân gian mang đầy màu sắc huyền bí. Song những giai thoại ấy đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Trà Vinh nói riêng, cư dân Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, nhất là đồng bào dân tộc Khmer trên mảnh đất này. Điều quan trọng nhất là ao Bà Om luôn là niềm tự hào của người dân Trà Vinh và là điểm tham quan du lịch, dã ngoại được nhiều du khách lựa chọn. Năm 1996, quần thể chùa Âng và ao Bà Om đã được bộ Văn hóa – thông tin (nay là bộ văn hóa – thể thao và du lịch) công nhận là di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia.

Đang yêu

Những ý tưởng làm đẹp nên thử mùa lễ hội

Bạn đã quá quen và cảm thấy nhàm chán với việc make-up nhẹ nhàng trong môi trường công sở? Vậy thì thời điểm cuối năm với dịp nghỉ lễ kéo dài sẽ là cơ hội tuyệt vời cho bạn thử nghiệm cảm giác mới lạ trong việc trang điểm, tạo cho mình diện mạo mới.

1. Son môi sáng màu

Một trong những ý tưởng tuyệt vời cho mùa lễ hội là trang phục màu đỏ, bởi nó mang đến sự tươi vui và nổi bật cho khổ chủ khi xuất hiện tại những bữa tiệc cuối năm. Tuy nhiên, nếu bạn cảm thấy mình không hợp với gam màu này thì có thể thay thế bằng cách sử dụng son môi sáng màu nhằm tạo sự nổi bật.

Thay vì màu son đỏ truyền thống, bạn có thể sử dụng son môi màu cam, hồng neon hay tím oải hương để tạo sự phá cách mà vẫn không kém xinh đẹp và quyến rũ.





2. Kẻ mắt mèo

Xu hướng kẻ mắt mèo chưa bao giờ được ưa chuộng nhiều như hiện nay với những đường kẻ sắc nét, tạo cho bạn đôi mắt sinh động và đầy sức sống. Tuy nhiên, kiểu kẻ mắt này lại không mang tính ứng dụng cao trong môi trường công sở hay ngày thường. Chính vì thế, ngày lễ hội với các bữa tiệc sôi động là thời điểm thích hợp nhất để bạn áp dụng kiểu trang điểm đang rất thịnh hành này.




3. Móng tay lấp lánh

Một bộ móng rực rỡ được đính đá lấp lánh sẽ giúp bạn nổi bật trong mọi bữa tiệc, ngay cả khi diện trang phục vô cùng đơn giản. Đặc biệt trong mùa lễ hội, họa tiết tươi vui trên móng tay cũng mang đến cho bạn tâm trạng thoải mái, vui vẻ để sẵn sàng cuộc hành trình với mọi cuộc liên hoan thâu đêm suốt sáng.



4. Đánh bóng mắt màu sáng

Nếu như không thích thử nghiệm màu môi sáng, bạn có thể thay thế bằng cách sử dụng bóng mắt có gam màu sáng, làm tăng sự nổi bật cho gương mặt thay vì gam nâu hay khói như truyền thống. Bạn hãy thử những gam màu như xanh dương, xanh lá, hồng sen đang rất hot hiện nay để tạo cho mình vẻ đẹp nổi bật và phá cách không thể lẫn trong đám đông.



5. Móng tay họa tiết

Bên cạnh việc áp dụng độ lấp lánh cho bộ móng của mình, kiểu móng vẽ theo hình họa tiết vui nhộn mang đặc trưng lễ hội như bông tuyết, ánh sao, kẹo ngọt…cũng rất thích hợp với những bạn yêu thích nghệ thuật. 



6. Thay đổi kiểu tóc

Dù bạn có bận rộn vì trang điểm cho khuôn mặt thế nào, cũng đừng bỏ qua việc tạo kiểu cho mái tóc bởi nó có vai trò rất quan trọng trong việc định hình phong cách của bạn. 

Dịp nghỉ lễ là cơ hội để bạn thử nghiệm những kiểu tóc mới lạ so với thường ngày, nhằm thay đổi diện mạo của mình. Nếu hàng ngày bạn trung thành với mái tóc thẳng mượt mà thì hãy tranh thủ cơ hội này làm xoăn cho mái tóc xem sao. Bạn sẽ nhận ra sự cuốn hút tiềm ẩn mà hàng ngày bạn chưa biết về bản thân mình đấy.



7. Phấn sáng màu và có nhũ

Một cách dễ dàng để làm cho làn da của bạn tỏa sáng lấp lánh trong mùa đông, đó là sử dụng phấn sáng màu và có nhũ. Bên cạnh đó, sử dụng phấn highlight vùng chữ T cũng giúp che khuyết điểm và mang đến cho bạn vẻ đẹp lung linh, rạng rỡ.



Suri (Xzone/TTTĐ)

Ngôi miếu cổ thờ những bộ hài cốt bí ẩn

Ở ấp Chợ Cũ, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng từ bao đời nay tồn tại một ngôi chùa. Tuy được gọi là 'chùa' nhưng tấm biển trên cổng lại ghi dòng chữ 'Ba Thắc Cổ Miếu'. Các bô lão địa phương cho biết ngôi miếu hình thành từ rất xa xưa.

Theo truyền thuyết, ngôi miếu đó được cất để thờ một phò mã lưu vong nước Lèo (tên gọi xưa của nước Lào). Không có chứng tích nào giải thích vì sao một ông phò mã nước Lào lại sang đây sinh sống rồi qua đời.

Tuy thờ một ông phò mã nhưng trên bàn thờ chỉ có một viên đá có hình dạng đầu người. Điều lạ là dưới nền đất trước sân miếu thỉnh thoảng một số xương cốt người lộ lên. Từ trước đến nay, người ta đã nhặt được vài chục bộ xương người như thế.

Dù ngôi cổ miếu chất chứa nhiều bí ẩn nhưng chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào giải mã. 

Từ thành phố Sóc Trăng đi theo đường Lê Hồng Phong, qua khỏi thị trấn Mỹ Xuyên khoảng 2 km sẽ gặp một chiếc cổng ghi "Ba Thắc Cổ Miếu". Qua khỏi cổng, đi men theo một con đường tráng xi măng uốn lượn khoảng 500m chúng tôi mới đến miếu.

Từ bên ngoài nhìn vào, chánh điện ngôi miếu nằm nép sau một gốc bồ đề đại thụ to khoảng 7 vòng tay người ôm. Bà Mười là người giữ miếu cho biết, trước năm 1970, dưới gốc bồ đề có một cặp vợ chồng rắn hổ ngựa. 


Cây bồ đề cổ từng có một cặp rắn thần cư ngụ

Không ai trông thấy trọn vẹn thân hình của cặp rắn này. Thỉnh thoảng người ta chỉ trông thấy cái đầu của chúng to bằng nắm tay người đàn ông, ngóc cao lên nhìn ngó mọi người rồi thụt vào. Người ta ước đoán cặp rắn dài hơn 10m. 

Điều lạ là cặp rắn tồn tại dưới gốc cây bồ đề suốt hàng chục năm nhưng chưa từng làm hại ai. Bất ngờ chúng biến đi đâu không ai rõ. Những người dân cư ngụ xung quanh miếu tin rằng, chúng đã tu thành... chính quả.

Gốc bồ đề đại thụ, mái ngói âm dương rêu phong và những truyền thuyết bí ẩn càng khiến ngôi miếu cổ thêm thâm trầm huyền hoặc.

Ông Ngô Văn Minh, thường gọi là ông Chín, sinh năm 1951 - Phó ban Trị sự quản lý ngôi cổ miếu cho biết: "Theo ông bà tôi kể lại, hồi xưa ngôi miếu cất bằng cây gỗ tạp theo lối kiến trúc cổ của người Kh'mer. Lúc đó, thưa người, cây cối rập rạm, ngôi miếu nhỏ nằm ẩn mình sâu trong góc rừng. 

Đến năm 1927, ngôi miếu hư mục nên ông Thái Chấn An (Hội trưởng Ban Tế tự) bắt tay cùng ông Lê Văn Hoạnh (chức Lý Tổng nhà cầm quyền thực dân Pháp) đứng ra vận động, quyên góp tiền bạc từ các thân hào để sửa chữa, cất mới bằng xi măng cốt thép theo kiến trúc Triều Châu cổ. Tổng diện tích xây dựng là 5.000 m2. 


Viên đá hình đầu người được để trên bệ thờ

Thời đó, ông Hoạnh rất uy quyền nên việc quyên góp tiền bạc dễ dàng. Sau khi sửa chữa, trên tấm biển xi măng ở mái dựng chánh điện, thợ xây tạo hàng chữ Pháp: "Pagode de Bassac", tức "Miếu thờ ông Bassac". Trải qua một thời chiến tranh ác liệt, Ba Thắc Cổ Miếu bị hư hao do bom đạn nên được trùng tu lần cuối vào năm 1995. 

Ông Bak Sak là ai?

Những bô lão những đời trước truyền miệng lại cho con cháu rằng, từ đầu thế kỷ 18, công chúa nước Lèo (tức Lào) cãi lệnh vua cha yêu một tráng sĩ thường dân tên là Bak Sak. Vua cha tức giận ngầm sai người truy sát tráng sĩ. Công chúa nghe tin đã mật báo cho người yêu. 

Thế rồi hai người cùng một số gia nhân, tùy tùng lên thuyền chạy trốn. Họ xuôi theo dòng sông Mekong nhắm hướng hạ nguồn rong ruổi ngày đêm. Do người Lèo chỉ sử dụng loại thuyền đường sông, nên khi ra cửa biển Trấn Di (nay gọi là Trần Đề) họ bị sóng biển đánh đắm. 

Thế là Bak Sak, công chúa và nhóm gia nhân đành hạ trại định cư. Sau này, nơi đó được gọi là Sóc Lèo, có nghĩa là làng của người Lào (hiện nay, nơi đây có tên hành chính là ấp Sóc Lèo, xã Lịch Hội Thượng, huyện Long Phú). 

Bak Sak và công chúa đi sâu vào đất Bãi Xàu (nay là Chợ Cũ, Mỹ Xuyên) khai phá rừng hoang xây dựng cơ ngơi. Ông Bak Sak là người có công mở cửa cảng giao thương Bãi Xàu rất sung túc tại đây vào thời điểm giữa thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. 

Đó là một trong những trung tâm thương mại của vùng Hậu Giang, nơi tập trung nhiều thương nhân người Hoa và các thương buôn từ các nước kéo đến. 

Khi ông Bak Sak mất, hài cốt được hỏa táng theo lễ nghi và xây tháp thờ tại chùa vua Bak Sak, tức chùa Bốn Mặt (cách miếu thờ Ba Thắc khoảng 500m). Để tưởng nhớ công khai phá vùng đất Bãi Xàu, đồng bào 3 dân tộc Kinh, Kh'mer và Hoa đã xây thêm một ngôi miếu thờ ông tức cổ miếu Ba Thắc. Bak Sak là cách gọi theo phiên âm tiếng Kh'mer, tiếng Pháp là Bassac. 

Còn Ba Thắc là cách gọi của người Hoa và người Kinh. Không nghe ai nhắc đến chuyện thờ bà công chúa Lào, vợ ông Bak Sak. Cũng không ai lý giải thỏa mãn nguyên do bàn thờ ông Bak Sak không tượng, không di ảnh mà chỉ có một viên đá hình đầu người.

Ngoài ra, cũng có những truyền thuyết khác, như: Ông là người Lào đi du ngoạn đến vùng đất này thì bị bệnh và chết. Lại có suy luận cho rằng, ông là người Kh'mer hoặc người Hoa đến vùng này để giao thương mua bán và bệnh chết… 

Tất cả các truyền thuyết này không được các nhà khoa học công nhận bởi những câu chuyện này không lý giải vì sao nơi nền miếu thỉnh thoảng có những bộ xương người lại lộ thiên sau những cơn mưa xói mòn đất.

Mồ chôn tập thể?

Anh Tám - một người dân cư ngụ gần miếu cho biết: "Cứ sau một mùa mưa là xương cốt người lại lộ ra. Từ thời ông nội tôi đến giờ, năm nào người ta cũng phát hiện vài bộ xương cốt, chất đống cạnh hông miếu".

Ông Chín Minh khẳng định: "Năm 2002, tôi cho người đào móng xây hàng rào cho miếu thì thấy dưới lớp đất mặt là những bộ xương cốt nằm chồng chéo lên nhau. Có vẻ như họ bị giết rồi chôn vùi tập thể. Xương to lắm. Dứt khoát không phải của người Kinh hay Kh'mer. 

Đến năm 2005, mưa trôi đất vẫn còn lộ xương. Tôi cho lót gạch lên nền miếu chứ không xương cốt vẫn còn tiếp tục lộ thiên hoài. Bây giờ, nếu đào xuống khỏi nền đất trên sân miếu sẽ gặp ngay thôi".


Ông Ngô Văn Minh và ngôi mộ vô danh chứa các hài cốt nhặt được từ nền sân miếu

Năm 2008, những người trong Ban trị sự đã gom những bộ xương vô danh ấy cho vào hũ rồi táng chung vào những ngôi mộ cạnh miếu để nhang khói.

Từ hiện tượng đó, có người nêu giả thuyết cho rằng, nơi đây từng là chiến trường quyết tử giữa quân Xiêm với quân Tây Sơn. Chiếu theo sử thì Vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đánh bại đã sang Xiêm cầu viện vào khoảng tháng Giêng năm Giáp Thìn (1784).

Lúc bấy giờ, Xiêm La dưới quyền cai trị của Vua Chakkri. Vị vua này đang nuôi tham vọng thôn tính Chân Lạp và Gia Định để mở rộng cõi bờ. Được Nguyễn Phúc Ánh xin cứu viện, vua Xiêm chộp ngay cơ hội.

Khoảng tháng Giêng năm Giáp Thìn (1784), vua Xiêm sai cháu là Chiêu Tăng làm chủ tướng và Chiêu Sương làm tiên phong, thống lĩnh 2 vạn thủy quân và 300 chiến thuyền, hợp cùng 1.000 quân của Nguyễn Phúc Ánh từ Kiên Giang kéo lên Gia Định. 

Đồng thời vua Xiêm phái thêm 2 tướng Lục Côn và Sa Uyển phối hợp cùng với Chiêu Thùy Biện (một cựu thần Chân Lạp thân Xiêm) đem hai đạo binh trên 3 vạn người, hành tiến sang Chân Lạp rồi đánh thốc xuống Gia Định.

Nói về giai đoạn này, lịch sử Thái Lan cũng thừa nhận: "... Vào tháng 5 (lịch Xiêm, khoảng tháng 3 DL) của năm Giáp Thìn (1785) nhà vua sai cháu là Chaofa Kromluang Thepharirak chỉ huy một đội chiến thuyền và 5.000 quân, với lệnh là tấn công và tái chiếm - không được thất bại - lãnh thổ Saigon cho Ong Chiang Su (chúa Nguyễn). 

Nhà vua cũng cho phép đích thân Ong Chiang Su đi theo đoàn quân. Một toán quân đường bộ do Phraya Wichinarong chỉ huy được lệnh tiến theo đường Cam Bốt và điều động thêm một đoàn quân Cao Miên. Chaophraya Aphaiphubet tuyển thêm một lực lượng 5.000 quân Cam Bốt để đi cùng quân Thái…

Cháu của vua là Chaofa Kromluang Thepharirak, cùng với các tướng lãnh cao cấp cùng Ong Chiang Su từ biệt nhà vua và đưa chiến thuyền thẳng tiến theo hướng biển đến Banteay Meas (Mang Khảm, tức Hà Tiên). 

Quân tại Banteay Meas dưới quyền của Phraya Rachasetthi và Phraya Thatsada được điều động để tăng viện. Liên quân tiến vào sông Bassac (Ba Thắc) và dừng lại tại rạch Wamanao (Trà Tân)". Theo một số học giả, số quân trong sử Thái giảm khá nhiều so với thực tế.

Trấn thủ Gia Định là Trương Văn Đa thấy sức giặc quá mạnh, ra lệnh cho các nơi vừa chặn đánh vừa rút lui từng bước để bảo toàn lực lượng.

Quân Tây Sơn giữ đạo Kiên Giang ở Rạch Giá và đạo Châu Đốc ở biên cương rút về Cần Thơ. Quân Xiêm đuổi theo. Quân Tây Sơn theo bờ Hậu Giang lui dần xuống Ba Thắc. Quân Xiêm đuổi đến Ba Thắc bị quân Tây Sơn phục kích đánh cho một trận tơi bời phải thối lui. 

Tại Rạch Gầm - Xoài Mút trên sông Tiền Giang, một đạo quân Xiêm cũng bị quân Tây Sơn phục kích đánh tan tác. Có thể nói, mặt trận Rạch Gầm - Xoài Mút không chỉ diễn ra trên sông Tiền mà kéo dài sang sông Hậu, đến tận Bãi Xàu - địa điểm ngôi miếu cổ Ba Thắc.

Kết thúc trận chiến, 5 vạn quân Xiêm chỉ còn sống sót vài ngàn tìm đường về nước bằng nhiều đường khác nhau. Hàng vạn tử thi chồng chất lên nhau là điều không tránh khỏi.

Nếu địa danh Ba Thắc đúng là nơi quân Tây Sơn phục kích quân Xiêm thì dưới nền sân miếu chính là nấm mồ tập thể chôn quân Xiêm tử trận. Theo truyền thống nhân đạo, nhân dân Ba Thắc đã cất một ngôi miếu nhang khói chung cho những người chết trận. 

Để tượng trưng chung cho những người trận vong, dân địa phương dùng một cục đá hình đầu người đặt trong miếu thay cho di ảnh. Có thể, sau khi Vua Gia Long phục quốc đã thực hiện chính sách trả thù những người theo Tây Sơn nên người dân nơi đây không dám hé răng kể về chiến tích Ba Thắc. 

Dần dà, người ta quên hẳn nơi đây từng xảy ra một trận chiến hào hùng mà chỉ gọi chung là miếu thờ Ba Thắc. Người đời sau nghĩ rằng Ba Thắc là một cái tên của ai đó rồi nảy ra truyền thuyết về một ông phò mã nước Lèo.

Nếu giả thiết này đúng thì các nhà khoa học khảo cổ cần tổ chức khai quật, xác định để làm sáng tỏ thêm một giai đoạn lịch sử vệ quốc hào hùng của người Việt xưa để trả lại thuyết đúng cho ngôi miếu cổ Ba Thắc.

Ngày nay, mỗi năm Ba Thắc Cổ Miếu tiến hành lễ cúng kị vào các ngày 21, 22 (chính) và 23 tháng 2 Âm lịch, thu hút hàng ngàn người tham dự. Lễ cúng gồm có heo quay, xôi, trái cây và nhang đèn, có ông lục chùa Watt Luong Bassac đến "sáp môl" (đọc kinh cầu an). Ngoài ra, ban trị sự cũng mời bằng được một đoàn hát cải lương diễn tích tuồng xưa phục vụ công chúng.

Cứ đến ngày rằm tháng Bảy, Ban trị sự miếu đều mời những người nghèo tại địa phương đến nhận gạo từ thiện. Đặc biệt, Tết Nguyên đán năm nào miếu cũng có khoảng 5.000 lượt khách tứ xứ cúng bái. Ngôi miếu cổ Ba Thắc trở thành một địa chỉ du lịch văn hóa tín ngưỡng của địa phương.

Công an nhân dân